.
UBND tỉnh ban hành Quyết định số 297/QĐ-UBND về Kế hoạch cải cách hành chính; nâng cao hiệu quả quản trị và hành chính công, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, gắn với đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2026 - 2030.

Mục đích nhằm triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ cải cách hành chính (CCHC) tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2026 - 2030 theo Quyết định số 282/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các chủ trương của Trung ương; cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ theo Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 05/4/2026 của Tỉnh ủy Quảng Ngãi về CCHC; nâng cao hiệu quả quản trị và hành chính công, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, gắn với đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2026 - 2030.
Xây dựng nền hành chính tỉnh Quảng Ngãi dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, công khai, minh bạch, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, nâng cao chất lượng phục vụ. Đẩy mạnh CCHC toàn diện trên 06 nội dung theo Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030, gắn với chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số, xã hội số; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, dữ liệu số trong quản lý, điều hành và cung cấp dịch vụ công; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu. Nâng cao hiệu quả quản trị và hành chính công; cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo động lực tăng trưởng mới cho tỉnh.
Chỉ tiêu năm 2026, cơ bản hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền địa phương theo mô hình chính quyền 02 cấp; đến năm 2030, tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, khả thi, hiệu quả, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. Phê duyệt lại vị trí việc làm của 100% cơ quan, tổ chức hành chính cấp tỉnh và cấp xã; hoàn thành sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước theo chủ trương của Trung ương. Phấn đấu nâng cao năng lực làm việc trong môi trường quốc tế của đội ngũ lãnh đạo, quản lý theo chức năng, nhiệm vụ được giao; từng bước tiệm cận các mục tiêu theo Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ, trong đó: khoảng 25% - 35% lãnh đạo, quản lý cấp sở; trên 30% lãnh đạo, quản lý cấp phòng trực thuộc sở và tương đương; khoảng 80% lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế; 100% cán bộ, công chức, viên chức làm chủ kỹ năng số, ứng dụng công nghệ trong quản lý, điều hành, 100% cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cơ bản. Năm 2027, 100% cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin, chuyển đổi số được đào tạo và đạt chứng chỉ quản trị dữ liệu cơ bản và đạt trình độ chuyên sâu vào năm 2030.
Năm 2026, 100% nhiệm vụ quản lý, điều hành được theo dõi, giám sát trên môi trường số; các cơ quan vận hành trên nền tảng số dùng chung; 100% cơ quan hành chính nhà nước thực hiện quản trị nội bộ trên môi trường số. Giai đoạn 2026 - 2027, 50% dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) toàn trình thiết yếu được ứng dụng AI hỗ trợ người dùng hoặc xử lý hồ sơ. Đến năm 2030, 50% DVCTT thiết yếu được triển khai ở mức “chủ động”, được AI hỗ trợ “cá thể hóa” hoặc gợi ý hành động theo sự kiện. Đến năm 2027, đạt cấp độ 3 mức độ trưởng thành về quản trị dữ liệu và đạt cấp độ 4 vào năm 2030. Có 100% DVCTT toàn trình trên tổng số thủ tục hành chính có đủ điều kiện; 100% thủ tục hành chính được thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính; tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến trên tổng số hồ sơ đạt tối thiểu 80%; 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa, tái sử dụng; 100% thủ tục hành chính có yêu cầu nghĩa vụ tài chính, được triển khai thanh toán trực tuyến, trong đó, tỷ lệ thanh toán trực tuyến đạt từ 80% trở lên; mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về giải quyết thủ tục hành chính đạt tối thiểu 95% và nâng lên 99% vào năm 2030. Có 100% cán bộ, công chức, viên chức thường xuyên sử dụng trợ lý ảo hoặc công cụ số thông minh để hỗ trợ thực thi công vụ; 100% cơ quan nhà nước cung cấp dữ liệu mở; 100% thông tin, giấy tờ trong thủ tục hành chính liên quan đến sản xuất, kinh doanh chỉ phải cung cấp một lần cho cơ quan nhà nước; 100% nhiệm vụ UBND tỉnh giao cho các cơ quan được theo dõi, giám sát và đánh giá tự động trên môi trường số.
Phấn đấu Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX), Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI) hằng năm của tỉnh đạt mức cao hơn trung bình cả nước. Đến năm 2030, Chỉ số PAR INDEX và PAPI xếp hạng từ 08 - 12/34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và duy trì ổn định qua các năm tiếp theo, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) xếp hạng từ 05 - 10/34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) đạt tối thiểu 95%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP đạt tối thiểu 30%; phát triển ít nhất 50 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; thu hút tối thiểu 10 - 15 dự án FDI chất lượng cao, công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường.
Phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 10%/năm trở lên.
Các nhiệm vụ trọng tâm
Cải cách thể chế: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của HĐND, UBND tỉnh, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ và khả thi. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm đúng trình tự, thủ tục, tiến độ và chất lượng theo quy định. Thường xuyên rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; kịp thời phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, không còn phù hợp với thực tiễn. Tăng cường theo dõi tình hình thi hành pháp luật; nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật.
Cải cách thủ tục hành chính: Tiếp tục rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa các quy định, thủ tục hành chính không cần thiết, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Tăng cường công khai, minh bạch thủ tục hành chính; bảo đảm 100% thủ tục hành chính được cập nhật đầy đủ, kịp thời trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính. Đẩy mạnh cung cấp DVCTT; nâng cao tỷ lệ người dân, doanh nghiệp sử dụng DVCTT và thanh toán trực tuyến; khuyến khích mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt đối với các dịch vụ công và các lĩnh vực thiết yếu phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp; bảo đảm giải quyết thủ tục hành chính đúng hạn, đúng quy định, nâng cao chất lượng phục vụ. Tăng cường tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp liên quan đến quy định hành chính; bảo đảm xử lý, phản hồi kịp thời, đúng quy định. Gắn cải cách thủ tục hành chính với cải thiện các chỉ số PAPI, PCI, nhất là các nội dung về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, chi phí thời gian, chi phí không chính thức, tiếp cận đất đai và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Cải cách tổ chức bộ máy: Tiếp tục rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; giảm đầu mối trung gian, khắc phục chồng chéo, trùng lắp chức năng, nhiệm vụ. Rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, đơn vị; bảo đảm phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lặp. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước giữa các cấp chính quyền; gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước; rà soát, hoàn thiện quy chế phối hợp, bảo đảm rõ trách nhiệm, tránh chồng chéo.
Cải cách chế độ công vụ: Tiếp tục hoàn thiện vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức, cơ cấu chức danh nghề nghiệp viên chức theo quy định; bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu thực tiễn. Nâng cao chất lượng tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức, viên chức; bảo đảm bố trí đúng người, đúng việc, đúng vị trí việc làm. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, nhất là kỹ năng số, kỹ năng quản trị hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng với môi trường làm việc số. Đổi mới công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng thực chất, gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ và sản phẩm đầu ra, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; nâng cao trách nhiệm và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong thực thi công vụ.
Cải cách tài chính công: Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý tài chính công; nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước theo hướng công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả. Đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập theo lộ trình quy định; gắn với nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công. Tăng cường công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản công; thực hiện đầy đủ các quy định về công khai ngân sách. Nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và CCHC; ưu tiên các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm.
Tác giả: Lthuy (https://quangngai.gov.vn/)
Bản quyền thuộc về Ban Quản Lý KKT Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi | Cổng thông tin điện tử Quảng Ngãi
Cơ quan chủ quản: Ban Quản Lý KKT Dung Quất Và các KCN Quảng Ngãi.